Vì sao đường ống khí y tế dùng ống đồng theo EN 13348
Đồng được sử dụng vì tương thích với oxy và các loại khí y tế khác, bản thân vật liệu sạch khi được gia công đúng cách, có thể đấu nối tin cậy bằng hàn đồng và chịu ăn mòn tốt trong môi trường công trình. EN 13348 đặt ra yêu cầu cao hơn ống đồng cấp nước thông thường ở chỗ kiểm soát độ sạch, bắt buộc tẩy dầu mỡ, bắt buộc bịt kín hai đầu ống và bắt buộc in ký hiệu tiêu chuẩn cùng đường kính lên thân ống để có thể nhận dạng vật liệu ngay tại công trường.
Tecnomed cung cấp ống đồng y tế liền không mối hàn sản xuất theo EN 13348, dạng cây thẳng dài năm mét được bịt nắp hai đầu và in ký hiệu tiêu chuẩn cùng đường kính trên từng cây ống, kèm theo phụ kiện ống, kẹp ống đơn và đôi, bạc lót GCu, ty ren M8 và long đen, kẹp neo bằng thép và thanh ray kẹp ống cần thiết để hoàn thiện việc lắp đặt.
Tẩy dầu mỡ, bịt đầu ống và bảo quản tại công trường
Ống y tế được giao ở trạng thái đã tẩy dầu mỡ và bịt kín hai đầu, và phải giữ nguyên trạng thái đó. Nắp bịt chỉ được tháo ra đúng lúc đấu nối, không phải khi hạ hàng xuống công trường. Mỗi đầu ống để hở qua đêm là một lời mời bụi, côn trùng, nước và rác thải công trường lọt vào đường ống mà sau này sẽ dẫn khí vào phổi người bệnh.
Hãy bảo quản ống kê cao khỏi mặt đất, có mái che, tránh xa dầu, nhiên liệu và dung dịch cắt gọt, đồng thời để ống y tế tách biệt hẳn với ống đồng cấp nước thông thường để không thể nhầm lẫn. Cắt bằng dao cắt ống dạng bánh lăn thay vì dùng cưa, nạo sạch bavia, và lau sạch đầu ống mà không dùng sản phẩm gốc dầu. Bất kỳ đoạn ống nào bị nhiễm dầu hoặc mỡ đều phải bị loại bỏ chứ không làm sạch tại công trường.
- Giữ nguyên nắp bịt cho đến khi thực hiện mối nối
- Bảo quản kê cao khỏi mặt đất, có mái che, tránh xa dầu và nhiên liệu
- Để riêng ống đồng y tế với ống đồng cấp nước thông thường
- Cắt bằng dao cắt ống bánh lăn, nạo bavia, không dùng dung dịch cắt gốc dầu
- Bịt hoặc nút kín mọi đầu ống hở khi kết thúc mỗi ngày làm việc
Chọn đường kính ống và nguyên tắc tổn thất áp suất
Chọn đường kính ống là một bài toán tổn thất áp suất, không phải một quy tắc kinh nghiệm. Hãy bắt đầu từ lưu lượng thiết kế của từng đoạn ống, áp dụng các hệ số đồng thời đã dùng khi tính công suất hệ thống nguồn cấp khí y tế, sau đó kiểm tra để tổng tổn thất áp suất từ nguồn đến ổ cắm khí y tế xa nhất vẫn nằm trong giới hạn cho phép ở đúng lưu lượng thiết kế đó. Phải tính cả tổn thất qua van, van giảm áp và bản thân ổ cắm khí y tế.
Có hai sai lầm phổ biến nhất. Thứ nhất là tính theo tổng của tất cả ổ cắm mà không áp dụng hệ số đồng thời, dẫn đến đường ống quá khổ và tốn kém. Thứ hai là tính ống đứng theo cùng cơ sở như ống nhánh, khiến tầng trên cùng bị thiếu khí vào giờ cao điểm. Khí hút chân không cần đặc biệt lưu ý, vì dịch vụ này chịu được tổn thất áp suất thấp hơn nhiều so với các khí nén và thường là dịch vụ hỏng trước tiên khi đường ống bị chọn thiếu tiết diện.
Khoảng cách gối đỡ, kẹp ống và giãn nở nhiệt
Khoảng cách gối đỡ phụ thuộc vào đường kính ống, ống càng nhỏ thì kẹp ống càng phải đặt dày hơn. Kẹp ống phải giữ chặt ống mà không làm bẹp ống, và các kim loại khác loại phải được cách ly để không phát sinh ăn mòn điện hóa. Tecnomed cung cấp kẹp ống đơn và đôi, thanh ray kẹp cho các tuyến ống đi chung, bạc lót GCu, ty ren M8 và long đen, cùng kẹp neo bằng thép để bắt vào bê tông và tường xây.
Các tuyến ống thẳng dài cần có phương án xử lý giãn nở nhiệt, đặc biệt ở ống đứng và ở những đoạn đi ngoài trời hoặc trong phòng máy nơi biên độ nhiệt lớn hơn. Hãy neo cố định tại những điểm xác định và cho phép ống dịch chuyển giữa các điểm neo đó, thay vì kẹp cứng toàn bộ và để chuyển vị dồn vào một mối hàn đồng. Giữ đường ống tách khỏi hệ thống máng cáp điện và dán nhãn dọc tuyến với tên khí và chiều dòng chảy.
Hàn đồng có sục nitơ, từng bước thực hiện
Hàn đồng trong không khí tĩnh sẽ tạo ra lớp vảy oxit đen bên trong mối nối. Lớp vảy này về sau bong ra và theo dòng khí đi tới ổ cắm khí y tế cùng thiết bị lâm sàng dưới dạng tạp chất dạng hạt, và một khi đã hình thành thì không có cách nào loại bỏ được. Dòng khí trơ lưu lượng thấp sục liên tục trong lòng ống trong suốt quá trình gia nhiệt sẽ đẩy không khí ra ngoài và ngăn lớp vảy hình thành ngay từ đầu.
Kỹ thuật này không khó nhưng phải áp dụng cho từng mối nối không có ngoại lệ, kể cả mối nối cuối cùng thực hiện trong trần giả vào cuối một ca làm việc dài. Lưu lượng sục phải đủ để đẩy hết không khí nhưng phải đủ nhẹ để không làm xáo trộn kim loại hàn đang nóng chảy. Hãy kiểm chứng bằng cách cắt bổ một mối nối thử ở giai đoạn đầu thi công và soi kiểm tra lòng ống, rồi lưu mẫu đó làm bằng chứng trong hồ sơ dự án.
- Cắt vuông góc, nạo bavia và làm sạch đầu ống cùng lòng phụ kiện ống
- Lắp ráp mối nối và thiết lập dòng sục khí trơ lưu lượng thấp trong lòng ống
- Xác nhận khí sục đã thoát ra ở đầu xa trước khi bắt đầu gia nhiệt
- Gia nhiệt đều mối nối và dùng đúng que hàn dành cho hệ khí y tế
- Duy trì dòng sục cho đến khi mối nối nguội hẳn
- Bịt lại đầu ống hở trước khi chuyển sang mối nối tiếp theo
- Kiểm tra lòng một mối nối mẫu ở giai đoạn đầu thi công và lưu lại làm bằng chứng
Thử áp, xả sục và kiểm tra tạp chất dạng hạt
Quy trình thử nghiệm tuân theo trình tự của EN ISO 7396-1. Đường ống đã lắp đặt được thử áp để kiểm tra rò rỉ và độ bền cơ học, thường thực hiện theo từng phân đoạn trong quá trình thi công để phát hiện lỗi khi tuyến ống còn tiếp cận được. Tiếp đó, thử đấu chéo sẽ chứng minh cho từng ổ cắm một rằng mỗi ổ cắm khí y tế chỉ cấp đúng loại khí của nó.
Sau đó hệ thống được xả sục và kiểm tra tạp chất dạng hạt, đồng thời khí tại ổ cắm được xác minh về chủng loại và chất lượng trước khi thử đặc tính lưu lượng và áp suất ở điều kiện thiết kế. Theo HTM 02-01, công việc được thực hiện dưới một giấy phép làm việc và chỉ được bàn giao cho sử dụng lâm sàng bởi người kiểm soát chất lượng, với toàn bộ kết quả được lưu thành hồ sơ thẩm định của công trình.
Dán nhãn và hồ sơ hoàn công
Đường ống phải được dán nhãn ghi tên khí và chiều dòng chảy tại các khoảng cách đều dọc tuyến, ở cả hai phía của mỗi vị trí xuyên tường và xuyên sàn, và ngay cạnh mỗi van. Nhãn là dành cho người kỹ sư sẽ mở trần lên sau mười lăm năm nữa, và đó là biện pháp an toàn rẻ nhất trong toàn bộ công trình lắp đặt.
Hồ sơ hoàn công phải ghi lại tuyến ống thực tế, vị trí van và ranh giới các khu vực, tiêu chuẩn ổ cắm khí y tế dùng cho từng khu, chứng chỉ vật liệu của ống, hồ sơ hàn đồng, toàn bộ kết quả thử nghiệm và bảng danh mục điểm báo động. Bàn giao một bộ hồ sơ chính xác chính là điều cho phép bệnh viện bảo trì, cải tạo và mở rộng hệ thống một cách an toàn trong suốt vòng đời còn lại của nó.
Câu hỏi thường gặp
Có thể dùng ống đồng cấp nước thông thường cho khí y tế không?
Không. Đường ống khí y tế bắt buộc dùng ống theo EN 13348, tiêu chuẩn kiểm soát độ sạch, yêu cầu tẩy dầu mỡ, bịt kín hai đầu và in ký hiệu tiêu chuẩn cùng đường kính. Ống đồng cấp nước thông thường có thể còn dầu hoặc cặn kéo ống và không có ký hiệu như vậy, nên không thể xác minh được là phù hợp ngay tại công trường.
Vì sao phải hàn đồng có sục nitơ?
Gia nhiệt đồng trong không khí tạo ra lớp vảy oxit bên trong ống, về sau bong ra và làm nhiễm bẩn ổ cắm khí y tế cùng thiết bị lâm sàng. Dòng khí trơ sục liên tục trong lòng ống khi hàn sẽ ngăn lớp vảy hình thành. Biện pháp này phải áp dụng cho mọi mối nối, vì chỉ một mối không sục cũng đủ làm nhiễm bẩn cả một nhánh ống.
Đường kính ống khí y tế được chọn như thế nào?
Bằng cách tính tổn thất áp suất ở lưu lượng thiết kế đến ổ cắm khí y tế xa nhất, sử dụng cùng các hệ số đồng thời như khi tính công suất hệ thống nguồn, và tính cả tổn thất qua van, van giảm áp và ổ cắm. Riêng khí hút chân không cần chọn đường kính ống rất cẩn thận vì chịu được tổn thất áp suất thấp hơn nhiều so với các khí nén.
Nhà thầu lắp đặt phải bàn giao những hồ sơ gì?
Chứng chỉ vật liệu của ống, hồ sơ hàn đồng và sục khí trơ, kết quả thử áp theo phân đoạn và thử áp tổng thể, biên bản thử đấu chéo cho từng ổ cắm, kết quả kiểm tra tạp chất và chất lượng khí, biên bản kiểm chứng hệ thống báo động, bản vẽ hoàn công có dán nhãn và văn bản nghiệm thu chất lượng trước khi đưa vào sử dụng lâm sàng.